Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Tìm hiểu cụ thể tư pháp quốc tế

      Thứ nhất, Tư pháp quốc tế nghiên cứu các quan hệ pháp luật dân sự;

     Thứ hai, điểm quan trọng hơn để phân biệt rõ Tư pháp quốc tế với Luật dân sự và Công pháp quốc tế là Tư pháp quốc tế nghiên cứu chỉ nhóm quan hệ pháp luật dân sự mang “tính chất quốc tế” Về “yếu tố nước ngoài” trong khoa học Tư pháp quốc tế cũng đã có sự thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước ngoài (như Điều 758 Bộ luật dân sự 2005) mà một quan hệ pháp luật dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố nước ngoài đó thì là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Đó là: Thứ nhất, có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia. Người nước ngoài là những người mang quốc tịch nước ngoài (không đồng thời mang quốc tịch Việt Nam) và người không quốc tịch. Thứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài. Ví dụ: Tài sản là đối tượng của quan hệ nằm ở nước ngoài (di sản thừa kế ở nước ngoài chẳng hạn).

Tìm hiểu cụ thể tư pháp quốc tế

     Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Pháp). Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Nói gọn hơn đó là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Nội dung và bản chất pháp lý của Tư pháp quốc tế Các quy phạm của Tư pháp quốc tế diều chính các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài (hay còn gọi là yếu tố quốc tế). Các quan hệ này là các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản, trong đó các quan hộ tài sản là chủ yếu. Đặc điểm của các quan hệ này là luôn vượt ra khỏi “biên giới” của quốc gia hay còn nói cách khác là nó luôn luôn liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác. Như vậy, nó phải liên quan hoặc phụ thuộc vào các quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia này. Đặc thù của Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cho nên trong Tư pháp quốc tế cũng có quy phạm đặc thù để điều chỉnh các quan hệ này, đó là các quy phạm xung đột (các quy phạm xung đột sẽ được xem xét kỹ ở Chương II). Quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết các quan hệ cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc “chọn luật” của nước này hay nước kia được áp dụng để giải quyết mà thôi.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tu phap quoc te, giải quyết xung đột

Nguồn gốc của thuật ngữ tư pháp quốc tế

    Ở Pháp, quan điểm về Tư pháp quốc tế mang tính chất điển hình cho Châu Âu lục địa. Những vấn đề đầu tiên được quan tâm thích đáng là các quy phạm về quốc tịch (các quy chế về quốc tịch Pháp – Nationalité), sau đó là địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Pháp – Condition des étrangérs. Các vấn đề này được nhìn nhận như là các quy phạm luật thực chất của Pháp như: xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài; các quyền tài sản và các quyền khác của họ. Sau khi các vấn đề trên được nghiên cứu tổng thể mới tiếp tục xem xét vấn đề xung đột pháp luật (conílict des lois) và thẩm quyền xét xử của tòa án (confict de jurisdiction). Ở Đức, Tư pháp quốc tế được nghiên cứu như là một ngành luật xung đột, trong đó đề cập cả các vấn đề liên quan đến tố tụng dân sự quốc tế.

thuật ngữ tư pháp quốc tế

      Liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế cần phải được nhìn nhận về tên gọi của ngành luật cũng như ngành khoa học pháp luật này. Thuật ngữ Tư pháp quốc tế (Private intemational law) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1834 trong tác phẩm của luật gia nổi tiếng người Mỹ Dj. Story. Trước đó người ta dùng thuật ngữ Luật xung đột (Conflict of Law) để thay cho Tư pháp quốc tế. Ở các quốc gia châu Âu thuật ngữ trên được sử dụng vào những năm 40 của thế kỷ 19 (Droit intemational privé – tiếng Pháp, Intemationales Privatrecht – tiếng Đức).
     Ngàv nay thuật ngữ này được thừa nhân trong rất nhiều ngôn ngữ, và Tư pháp quốc tế vừa đươc hiểu với tư cách là một ngành luật độc lập, vừa lai là một ngành khoa học pháp_lý.
    Trong hệ thống pháp luật Việt Nam không chia ra làm “luật công” và “luật tứ”, cho nên thuật ngữ Tư pháp quốc tế được sử dụng theo quy ước mà thôi.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: luat tu phap quoc te, xung dot phap luat

Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

     Sự hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại. Việc củng cố và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thể hiện trong quan hệ dưới nhiều hình thức và phương diện: giữa các quốc gia và đồng thời cũng như giữa công dân và pháp nhân của họ. Quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hộ giữa các công dân và pháp nhân của các nước và giữa các nước với nhau.
     Mọi lĩnh vực quan hệ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế. Còn các quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
Các quan hệ giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia trên thế giới rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp. Chúng bao gồm những vấn đề như sau:
– Năng lực pháp luật dân sự của thể nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoài;
– Các quan hệ pháp luật về sở hữu của người nước ngoài pháp nhân nước ngoài và thậm chí của các quốc gia nước ngoài;
– Các quan hệ hợp đồng kinh tế ngoại thương;
– Các quan hệ pháp luật về tiền tệ và tín dụng;

Tư pháp quốc tế

– Các quan hệ về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp;
– Các quan hệ pháp luật về thừa kế;
– Các quan hệ về hôn nhân và gia đình;
– Các quan hệ về lao động của người nước ngoài;
– Các quan hệ tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài…
      Như vậy, với các loại đối tượng trên đây Tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, mặt khác trong khoa học pháp lý nói chung nó cũng lại là một ngành khoa học pháp lý độc lập mà đối tượng nghiên cứu của nó là lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng )phát sinh trong đời sống quốc tế. Các quan hệ pháp luật dân sự này luôn có đặc trưng là mang “yếu tố nước ngoài”. Yếu tố nước ngoài đã được khẳng định một cách rất rõ ràng trong Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “Quan hệ dân sự cố yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam đinh cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cồng dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tư pháp quốc tế, cách giải quyết xung đột

Các quy phạm xung đột về kỹ thuật pháp lý

    Ví dụ: Một công ty A của Hà Nội Việt Nam có quyền tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết một hợp đổng mua xe gắn máy (hai bánh) của một công ty B của Nhật Bản. Hợp đồng được ký kết tại Singapo. Khi nhận hàng Công ty A phát hiện thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng như trong hợp đồng đã thỏa thuận. Để giải quyết tranh chấp này thì luật nước nào sẽ được áp dụng để giải quyết. Trường hợp này vì hợp đồng được ký kết tại Singapo nên Luật Singapo sẽ có thể được áp dụng để giải quyết (áp dụng nguyên tắc luật nơi ký kết hợp đồng).
     Các quy phạm xung đột về kỹ thuật pháp lý mà nói thì nó là các quy phạm khá phức tạp của Tư pháp quốc tế. Tổng thể các quy phạm xung đột được quốc gia ban hành, hay thỏa thuận và chấp nhận được gọi là luật xung đột. Tư pháp quốc tế không chỉ bao gồm luật xung đột. Luật xung đột chỉ là một phần của Tư pháp quốc tế, mặc dù là phần phức tạp và có thể nói là rất “then chốt” của Tư pháp quốc tế.
     Tư pháp quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Như vậy, chính đối tương điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (nhóm quan hệ xã hội mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh) nó có V nghĩa quyết định đến phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Có hai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, đó là:
– Phương pháp thực chất
– Phương pháp xung đột.

kỹ thuật pháp lý

     Cả hai phương pháp cùng được áp dụng đồng thời, nhưng trong những trường hợp nhất định thì chỉ cần áp dụng phương pháp thực chất nên có thể nói là nó có ưu thế hơn. Đây là các trường hợp mà quy phạm thực chất đã đươc nhất thể hóa trong các điều ước quốc tế. Trong quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt: kinh tế, thương mại, kỹ thuật, văn hóa, giao thông vận tải v.v. Các quốc gia đã nhất thể hóa được rất nhiều vấn đề và có thể nói rằng đây là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế – xã hội giữa các nước.
     Các quốc gia không chỉ dừng ở việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất mà còn thống nhất hóa các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế. Trong khi các điều kiện về lịch sử, dân tộc, trình độ phát triển và lợi ích v.v. của các quốc gia còn khác biệt và thậm chí khác xa nhau thì việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất là khó khăn, nhưng thống nhất hóa các quy phạm xung đột thì lai dễ hơn và cách này tỏ ra hiệu quả và thực tế hơn. Về mặt nào đó, ta có thể nói là thống nhất hóa các quy phạm xung đột nó cũng góp phần củng cố cho việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất.



Các quy phạm là một phần của Tư pháp quốc tế

     Phải kể đến loại quy phạm thực chất trong các văn bản pháp lý trong nước điều chỉnh quan hộ tư pháp quốc tế một cách trực tiếp (tức là không cần bất cứ một sự dẫn chiếu nào của quy phạm xung đột tới nó). Các quy phạm này cũng là một phần của Tư pháp quốc tế. ,Nó là nhóm quy phạm ở các văn bản pháp quy của nhà nước điều chỉnh trực tiếp các quan hệ kinh tế đối ngoai hoặc các quan hệ hợp tác khoa học – kỹ thuật, văn hóa giữa các tổ chức, đơn vị, cá nhân công dân Việt Nam với các bên tương ứng của nước ngoài. Ví dụ: Các quy định trong Luật đầu tư cũng cần nhấn mạnh rằng nó là một nhóm quy phạm có tính chất riêng biệt và không thể cho nó đồng nhất với các quy phạm dân sự và ở một mức độ nhất định nào đó cho thấy sự khác biệt và ranh giới giữa Tư pháp quốc tế với Luật dân sự.
     Như vậy, trong thành phần cơ cấn của Tư pháp quốc tế bao gồm hai loại quy phạm: quy phạm xung đột và quy phạm thực chất cùng điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế nảy sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật văn hóa giữa các quốc gia và các quy phạm quy định các quyền dân sư, hôn nhân gia đình, lao động thương mai và tố tụng dân sự của ngươi nước ngoài. Đây là nội dung cơ bản của Tư pháp quốc tế và nó thể hiện đậm nét trong các đặc thù của ngành luật này.

Các quy phạm

     Hiện nay về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn Tư pháp quốc tế ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biệt, chảng hạn như vấn đề đối tựơng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế cũng chưa thể thống nhất.
    Ví dụ: Ở Séc và Slovakia thì cho rằng Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Còn một số luật gia ở Bungari lại cho rằng Tư pháp quốc tế chỉ gồm các quy phạm xung đột. Trung Quốc cũng giống như ở Bungari cho rằng Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nên chỉ nhìn nhận Tư pháp quốc tế bao gồm các quy phạm xung đột hoặc luật xung đột. ơ Balan, Tư pháp quốc tế được coi như luật xung đột nhưng lại thêm cả vấn đề tố tụng dân sự quốc tế nữa. Hungari cũng có quan điểm giống như ở Ba Lan. Ở Anh – Mỹ trong các giáo trình của các trường đại học và các tác phẩm chuyên khảo thì nhìn nhận các vấn đề xung đột pháp luật dưới góc độ của các vấn đề lựa chọn pháp luật (choice of law) và các vấn đề thẩm quyền (jurisdiction) của tòa án, tòa án Anh – Mỹ có thẩm quyền xét xử hay tòa án nước ngoài có thẩm quyền xét xử. ở đây cũng cần lưu ý rằng các quan điểm này của Anh – Mỹ thường dẫn tới việc hạn chế việc áp dụng luật nước ngoài và tăng cường tới mức tối đa có thể được trong mọi trường hợp để áp dụng luật Anh – Mỹ.


Đọc thêm tại:

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Cách giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

     Mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác. Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên.


Cách giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế


     Các ngành luật quốc nội như là: Luật dân sự, Luật thương mại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động v.v. điều chỉnh các quan hệ của mình một cách trực tiếp và đơn giản. Ví như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải quyết đúng “địa chỉ” của quan hệ pháp luật cụ thể. Nhưng nếu các quan hệ trên đây lại có một hoặc vài yếu tố nước ngoài tham gia, tất yếu các quan hệ đó đã phụ thuộc (liên đới) tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và đương nhiên vấn đề “lựa chọn” một hệ thống pháp luật điều chỉnh là rất cần thiết. Như vậy, xung đột pháp luật có thể đươc hiểu là trong một tình thế (trạng thái) nhất định mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh một quan hệ pháp luật nhất định.

      Chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, chứ không thể tự do, tùy ý, tùy tiện. Điều này có nghĩa là việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng sẽ không phụ thuộc vào chủ quan ý chí của toà án có thẩm quyền, hoặc sẽ không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ. Mục đích của Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế (đó là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng). Tất yếu dẫn đến việc “đụng độ ” giữa các hệ thống pháp luật liên đới khác nhau. Để giải quyết vấn đề này không thể không tính tới việc bảo đảm sự bình đẳng và lợi ích của các hệ thống pháp luật liên quan, nghĩa là loại trừ các hệ thống pháp luật khác không áp dụng mà chỉ biết áp dụng luật của mình, lợi ích của mình hay chỉ một hộ thống có lợi. Ngược lại, cách giải quyết trọn vẹn nhất là củng cố sự hợp tác bình đẳng và bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các quốc gia.